Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Zaisan đã đổi thay


Với tôi và với mỗi sinh viên Việt nam thập kỷ 80 trở về trước luôn có trong tâm trí hình ảnh Zaisan yên bình đầy mộng mơ. Chúng tôi luôn mong muốn có dịp gặp lại người thân cũ... ZAISAN. Tuy nhiên cùng với sự đổi thay của thể chế kinh tế, Zaisan nói riêng và Ulanbator nói chung đã thay đổi chóng mặt. Từ một thủ đô chỉ có số lượng dân số 250.000 dân đến nay đã tăng lên 1.000.000 dân. Từ một thành phố yên bình nhà cửa thưa thớt đến nay đã san sát nhà cao chọc trời, phố xá tắc nghẹt ô tô. Ngày xưa Bách hóa Tổng hợp to cao thế mà nay như ngôi nhà gỗ nhỏ lọt thỏm trong những khối nhà đồ sộ nguy nga.
Với chính sách mở cửa và tự do phát triển theo kinh tế thị trường, Mông cổ đã trở thành nghĩa địa xe ô tô cũ giống như Việt nam đã là nghĩa địa xe gắn máy vào thập kỷ 80-90 của thế kỷ 20. Chúng ta thử hình dung với thủ đô Ulanbator nhỏ bé, hạ tầng cơ sở được cải tiến không đáng kể mà số xe ô tô đăng ký cả trăm nghìn chiếc thì giao thông không hiểu sẽ xảy ra như thế nào. Giao thông liên tục tắc đường. Thành phố bị ô nhiễm khói bụi trầm trọng đến nỗi người dân Mông cổ đã đổi tên Thủ đô Ulanbator ( Ulaanbaatar-  Anh hùng đỏ ) thành Utaanbaatar – Anh hùng khói. Thật giống y chang Việt nam chúng mình.
Các vấn đề về văn hóa giáo dục cũng không tránh khỏi qui luật kinh tế thị trường...Mua điểm, mua bằng tràn lan. Giao thông cũng phải làm luật. Nạn mãi lộ hoành hành khắp nơi. Dân nghèo từ nông thôn đang dồn về thành thị tạo nên sức ép rất lớn cho Chính phủ. Nói chung ta có gì thì bạn có cái ấy.
Đó là nói về mặt trái của cơ chế thị trường ít được kiểm soát. Cái được đối với đất nước Mông cổ rất lớn từ vị thế đất nước đến vị thế kinh tế trong cộng đồng thế giới. Với lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, Mông cổ đang là nơi hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài. Kinh tế Mông Cổ tập trung vào nông nghiệp và khai thác mỏ. Mông Cổ có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như đồng, than, môlípđen, kẽm, tungstenvàng chiếm một phần lớn sản phẩm công nghiệp. Dự trữ đồng, than đá và vàng dồi dào của Mông cổ đã thổi bùng lên cơn sốt đầu tư vào ngành khai thác khoáng sản, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2011 của Mông Cổ đạt kỷ lục 17,3%.
Hiện có hơn 30.000 doanh nghiệp độc lập tại Mông Cổ, chủ yếu tập trung tại các thành phố và thủ đô . Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là dê, cừu, lạc đà, ngựa, bột mì, lúa mạch, khoai tây, các loại rau, cà chua, dưa hấu, cỏ khô cho gia súc. GDP của Mông Cổ năm 2011 đạt 8,6 tỷ USD và GDP tính trên đầu người năm 2011 là 3,100 $. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng gấp 3 lần năm 2011 và chạm mức kỷ lục 5,3 tỷ USD.
 Thị trường Chứng khoán Mông Cổ được thành lập năm 1991 tại Ulanbator và có lẽ là thị trường chứng khoán nhỏ nhất thế giới xét theo tư bản hoá thị trường.
Với những đổi thay của đất nước như vậy, Zaisan của chúng mình cũng phải nằm trong quĩ đạo và đã thay đổi rất nhiều. Khu trường cũ giờ đã mọc thêm nhiều khu nhà cao tầng mới cho các Viện và Trường đại học trực thuộc. Zaisan bây giờ không còn mộng mơ như ngày xưa nữa mà nó cũng hối hả theo vòng quay của nền kinh tế thị trường. Đó mới là phát triển. Người già chúng mình do có tính bảo thủ rất cao cho nên nhiều khi không chịu chấp nhận những thực tế khách quan của sự phát triển. Chúng ta không nên buồn mà phải biết hy sinh vì tương lai. Mời các bạn hãy trở lại chốn xưa để cảm nhận niềm vui và nỗi buồn của Zaisan trong sự phát triển.
Trên đây là một số thông tin tôi có được về Mông cổ trong 10 ngày gặp lại gia đình Thày Purevjav. Có điều gì chưa đúng mong các bạn đang sống tại Mông cổ thông cảm. Sau chuyến thăm vào dịp quốc khánh Mông cổ tháng 7 tới chúng ta sẽ quay trở lại chuyên mục này.

Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012

Gia đình Thày Purevjav

      Thày cùng cô út và hai cháu ngoại trước khi nghỉ hưu                                              Các con của Thày

Thực sự vào năm thứ nhất tôi vẫn chưa biết Thày gia đình Thày. Thày khi đó là Trưởng phòng Giáo vụ của Trường Đại học Nông nghiệp Quốc gia Mông cổ bây giờ đổi thành Trường Đại học Tổng hợp Nông nghiệp Quốc gia Mông cổ còn tôi là cậu sinh viên mới năm đầu còn nhiều bỡ ngỡ. Noel năm thứ nhất tôi được phân công thổi sáo cho anh Nguyễn Mạnh Hùng ( đã mất năm 1991) hát. Hôm tổng duyệt chương trình, thấy tôi thổi sáo nghe được anh Trưởng đoàn đề nghị tôi độc tấu một bài Mông cổ. Tôi đã làm cả ban nhạc và anh Trưởng đoàn sung sướng vì có thêm tiết mục mới. Thế là ngay lập tức tôi được biên chế chính thức là thành viên của Ban nhạc. Kể từ đó hàng năm cứ vào kỳ nghỉ đông tôi lại được cử đi cùng ban nhạc trong các chuyến khảo sát kết quả đào tạo của trường và nhu cầu đào tạo tại một số tỉnh. Thày luôn là Trưởng đoàn. Do đoàn có tôi là người nước ngoài cho nên Thày thường bố trí tôi phải cùng đi với các Thày cô. Khi đến nơi mới đi cùng Ban nhạc. Do đó tôi có nhiều thời gian tiếp xúc và làm quen với các thày trong Ban lãnh đạo của Trường. Cậu Bold là con trai cả của Thày là nhạc công chơi ghitar Bass và controbass. Chúng tôi quen nhau rất nhanh vì tính tình gần giống nhau: Thích chơi, lười học. Không biết có phải vì tôi là người Việt nam ngoan ngoãn chăm học và Thày muốn lấy tôi làm gương cho con Thày hay không mà Thày rất quí và chăm lo cho tôi. Tôi nhớ đợt thực tập giáo trình cả khóa phải đi nông thôn, nhưng riêng mình tôi Thày trực tiếp đưa xuống Trại gà Songino để thực tập. Xuống đến nơi Thày đưa tôi vào nhà khách, gặp Ban Giám đốc, Kỹ sư trưởng xong xuôi Thày mới về. Tết nào tôi cũng được Thày mời đến nhà đón tết. Bánh Buuz nhân thịt cừu thơm lừng, ngọt lịm mà Cô tự tay làm để lại trong tôi ấn tượng không bao giờ quên. Vào dịp Hè thế nào cũng phải ra nhà nghỉ của gia đình Thày ở ngoại ô vài lần cùng gia đình ăn uống vui chơi. Tôi như một thành viên trong gia đình Thày. Điều đó làm tôi vơi đi nỗi nhớ nhà và khuyến khích tôi cố gắng học để không phụ công Thày.
Tôi nhớ mãi năm 1976 trong Hội diễn văn nghệ toàn Mông cổ, tiết mục nhạc dân tộc của chúng tôi đoạt huy chương vàng và tiết mục độc tấu sáo của tôi đoạt huy chương đồng. Thày vui lắm. Dịp đó gần cuối hè. Cả nhà kéo nhau ra nhà nghỉ làm bữa cơm có bánh Buuz để chúc mừng chúng tôi. Hôm đó Thày cho chúng tôi uống xả láng. Thật là vui.
Khi tôi quen gia đình Thày mới 48 tuổi, Cô 43, cậu Bold mới 20, em Suvd mới 18 và cô út Tuya mới 15. Năm nay gặp lại nhau thì Thày đã về với tổ tiên được 22 năm, Cô đã 80 tuổi còn tôi đã 60, Bold 58, Suvd 56 và Tuya cũng đã 53 tính theo tuổi mụ. Các em con cái đã trưởng thành và đều có cuộc sống ổn định. Cô vẫn ở căn hộ 4 phòng ngày xưa ở Zaisan. Bold mua đất và sống cuộc đời điền viên ở nông thôn. Suvd đang làm cho Dự án của UNDP về bảo tồn động vật hoang dã. Tuya lấy chồng người Hungary và hàng năm đưa gia đình về nghỉ hè tại quê hương Mông cổ. Hè này chúng tôi hẹn gặp nhau nhân dịp quốc khánh Mông cổ. Tôi đang mong sớm đến ngày đó để tôi được gặp tất cả các thành viên trong gia đình Thày, để dâu, rể và các cháu biết tôi là người của gia đình từ thời xa xưa - Một thời khó khăn mà chúng không thể hiểu nổi.

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012

Tôi đã hồi sinh




Thế là đã toại nguyên sau bao năm dài tìm lại những người đã quen một thời gian khó. Các bạn đã biết tôi đã nhờ biết bao người đang sống tại Mông cổ cũng như ở Việt nam tìm giúp. Tuy nhiên đều vô vọng. Nỗi mong nhớ, ân hận cứ dày vò tôi suốt bao năm. Nỗi nhớ càng lớn lên theo thời gian nhất là vào thời gian sắp hạ cánh về già. May sao năm 2010 đoàn đại biểu bao gồm các thày cô lãnh đạo của các Viện và Trường thuộc Trường Tổng hợp Nông nghiệp đã sang thăm và làm việc với Viện Chăn nuôi và Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thụy Phương. Tôi đã gặp thày Batgombo Luvsansharav và Thày chính là chồng của cô bạn cùng lớp Enkhtuya. Thế là tôi đã nhờ Thày và cô bạn cũ tìm lại địa chỉ của những người con của Thày Purevjav.


Đoàn các Thày Cô của Trường đến làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Lợn

Nói thì dễ nhưng đi tìm cũng mất rất nhiều thời gian. Sau bao lần nhầm lẫn đến 10 tháng 2 năm 2012 tôi đã nhận được thư điện tử của cô bạn báo tin là đã tìm được địa chỉ E-mail của em Suvd con gái Thày. Tôi thật sự vui mừng và đã viết thư gửi ngay tới em. Và cũng thật bất ngờ chỉ sau đúng một giờ đồng hồ tôi đã nhận được hồi âm. Em thông báo là đã báo tin hết cho mọi người trong gia đình là đã tìm được tôi và rằng mấy năm nay Mẹ luôn hỏi thăm tin tức về tôi. Thế là hầu như ngày nào chúng tôi cũng gửi cho nhau vài dòng để hàn huyên cho bõ những ngày xa cách. Một điều bất ngờ và làm tôi vô cùng cảm động là Em thông báo sau tết âm lịch ngày 5/3/2012 Mẹ sẽ sang thăm Việt nam để gặp gia đình tôi và kịp tiễn cháu đi học tại Cộng hòa Liên bang Đức ( Con trai tôi đi Đức ngày 8/3/2012). Tôi rất vui nhưng rất lo lắng vì một người đã 80 tuổi làm sao đi xa như vậy được. Tôi đã bày tỏ lo lắng với em nhưng em nói là Mẹ kiên quyết đòi đi bằng được cho dù đã biết tôi sẽ sang vào tháng 7 tới và Mẹ nói rằng sang thăm gia đình tôi chứ không phải riêng tôi. Tôi gấp rút liên lạc với Sứ Quán để hỏi thủ tục và nhờ giúp đỡ nếu có vấn đề gì khó khăn.
Sát đến ngày đi thì tôi nhận được tin cậu Bold con trai cả của Thày người tôi đã nói nhiều trong các câu chuyện đã kể cũng sang Việt nam. Do phải đưa vợ và con sang Bắc Kinh công tác cho nên cậu đã đi tàu liên vận sang Bắc kinh và sau đó đi tàu nội địa đến Đồng Đăng rồi đi xe Buýt về Hà nội. Thật đáng khâm phục vì một câu tiếng Trung hay tiếng Anh cậu ta đều không biết.


                    Chụp ảnh cùng bạn cũ.                                Tặng hoa Cô nhân ngày 8/3

Đúng 10h20 tối 5/3/2012 tôi ra sân bay đón Cô. Thật bất ngờ Cô vẫn như xưa chỉ già đi vì tuổi tác. Cô em gái ngày xưa xinh đẹp là thế mà nay đã già đi nhiều. Chúng tôi ôm hôn nhau làm đám đông các cháu chờ đón đoàn ca sĩ Hàn Quốc sang tham dự Đại nhạc hội Việt Hàn hoan hô rầm trời. Còn cậu bạn Bold thì tôi hầu như không nhận ra khi ra bến xe đón. Ngày xưa cậu ấy trẻ và đẹp trai là thế mà nay như ông lão Mông cổ chính thống.
Tôi đã bố trí nghỉ 10 ngày để đi nghỉ cùng gia đình Thày. Tôi giới thiệu các danh thắng ở Hà nội, Hạ Long và Huế. Tại Huế các anh Phạm Quang Trung và anh Phạm Hồng Sơn đã mời cơm tại gia đình. Cô và các em rất cảm động vì ân nghĩa của người Việt nam chúng mình.  

Du lịch trên vịnh Hạ Long


Thăm động Thiên Cung


 Ngắm vịnh Hạ Long



Thăm làng cổ Bát Tràng


Thăm lăng Tự Đức



Thăm Lăng Khải Định


 Thăm chùa Thiên Mụ

Thấm thoắt đã hết 10 ngày. Chúng tôi chia tay đầy lưu luyến. Cô và các em đã khóc. Chúng tôi ôm chặt nhau không muốn rời xa. Khi vào khu kiểm tra an ninh, Cô nói với tôi: Mong sao tháng 7 mau đến...
Tôi thực sự không hiểu mối quan hệ của tôi với gia đình Thày sao gắn bó đến thế. Chúng tôi quan hệ như người trong một gia đình không ngại ngùng, khách sáo. Đúng như em Suvd đã viết cho tôi là mối quan hệ của chúng tôi vượt trên cả tình bạn và đã làm em thay đổi nhận thức về lẽ sống cuộc đời. Tôi đã trả lời em là mối quan hệ đó có lẽ đã có từ kiếp trước và chúng ta phải nâng niu và gìn giữ nó.



Bên sông Hương
Chuyến thăm của Cô và gia đình đã thực sự giải tỏa sự nặng nề trong lòng tôi bấy lâu nay. Tâm hồn tôi nhẹ nhõm, bay bổng như đã hoàn thành được một nhiệm vụ to lớn của cuộc đời mặc dù biết rằng để gìn giữ được mối quan hệ tốt đẹp này đến hết cuộc đời không phải là dễ.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2012

Gửi Mông cổ yêu thương

  
Bẩy năm tạm biệt xa quê
Hôm nay được về quê mẹ
Bồi hồi lòng sao lưu luyến
Bâng khuâng nước mắt tràn trề.

“Khi ở chỉ là đất ở
Khi đi bỗng hóa tâm hồn”
Thảo nguyên cọc cằn, sỏi đá
Giờ đây bỗng đẹp như mơ.

Ơi đất thảo nguyên Mông cổ
Đã thành quê mẹ thứ hai
Những chiều thảo nguyên ráng đỏ
Nhớ hoàng hôn lũy tre làng...

Thảo nguyên Mông cổ thương yêu
Quên sao những chiều nhớ mẹ
Một mình khóc thầm lặng lẽ
Bạn bè luôn ở cạnh bên.

Quên sao tiếng nói Thày Cô
Khắc ghi ân tình dạy dỗ
Thày trò 5 năm gắn bó
 Biết bao kỷ niệm buồn vui.

Quên sao bàn tay mát rượi
Bóp đầu lúc ốm xa nhà
Nhìn bạn lo âu rơi lệ
Nghẹn ngào không nói lên lời.

Quên sao đến mỗi mùa thi
Thư viện chật người đọc sách
Quán ăn thường ngày vắng khách
Mà nay nhộn nhịp ôn bài.

Quên sao những buổi trốn giờ
Cùng em xem phim, đi dạo
Những đêm liên hoan, dạ hội
Dìu nhau điệu vũ vance.

Tình người thời gian gắn bó
Xa nhau thương nhớ đầy vơi
Thời gian bay như ánh chớp
Thoắt đà đã bẩy năm trôi.

Thảo nguyên Mông cổ tôi yêu
Xin hẹn một ngày tái ngộ.

                                            Xuân 1978

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

NHỚ QUÊ


Gửi tặng những bạn đang sống xa quê

Tôi luôn là con của quê hương
Xa quê đã gần trọn đoạn đường
Dù bận vẫn thường thăm quê cũ
Mỗi lần thêm nhớ lại thêm thương

Tôi nhớ không quên những chuyến về
Cảnh đời thay đổi, nhạt hương quê
Quê hương trong tôi luôn vẫn thế
Vương vấn hồn tôi mái tóc thề

Quên sao cây phượng đứng đầu làng
Khoe đầy sắc đỏ báo hè sang
Nhụy hoa từng cặp say mê chọi 
Nỗi buồn hoa phượng mãi còn mang
  
Nhớ lắm em ơi những buổi chiều
Giếng làng rộn rã tiếng cười vui
Mái đình huyền ảo đêm trăng tỏ
Chùa vang tiếng mõ, tiếng kinh cầu

Mùi quê rạo rực cá kho tương
Vị quê canh cải nấu rô đồng
Quê hương thấm đậm mùi rơm mới
Hương nồng cơm nếp vụ mùa sang

Nhớ nhớ, quên quên , nhớ đừng quên
Nhớ xây đài thiện để đáp đền
Chớ quên quá khứ đầy gian khó
Quê hương còn đó lắm truân chuyên...

Quê hương mến yêu của tôi ơi!
Cho dù phiêu dạt bốn phương trời
Với tôi quê hương là tất cả
Đích đến cuộc đời trọn niềm vui.
              Tháng 12/2011

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2011

MỘT SỐ BÀI THƠ HAY (Sưu tầm)

Người bán rau
Thái Hải

Một mớ hành ta
Một mớ ngò tây
Tập tàng một mớ
Mỗi thứ dăm cây

Rau xanh như chị
Chị như rau gầy

Có người hỏi mua
Chị mừng nín thở
Sợ e khách đùa

Dăm ngàn bạc lẻ
Chợ tan lúc nào
Bước thấp bước cao
Chị về sắm tết.


Tiếng Thu
Lưu Trọng Lư

Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức ?

Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ ?


Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô ?


Biển
Xuân Diệu

Anh không xứng làm biển xanh
Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng
Bờ cát dài phẳng lặng
Soi ánh nắng pha lê...

Bờ đẹp đẽ cát vàng
-Thoai thoải hàng thông đứng-
Như lặng lẽ mơ màng
Suốt ngàn năm bên sóng...

Anh xin làm sóng biếc
Hôn mãi cát vàng em
Hôn thật khẽ,thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi

Ðã hôn rồi, hôn lại
Cho đến mãi muôn đời
Ðến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt...

Cũng có khi ào ạt
Như nghiền nát bờ em
Là lúc triều yêu mến
Ngập bến của ngày đêm

Anh không xứng là biển xanh
Nhưng cũng xin làm biển biếc
Ðể hát mãi bên gành
Một tình chung không hết,

Ðể những khi bọt tung trắng xóa
Và gió về bay tỏa nơi nơi
Như hôn mãi ngàn năm không thỏa,
Bởi yêu bờ lắm lắm em ơì



Thuyền và biển
Xuân Quỳnh

Em sẽ kể anh nghe
Chuyện con thuyền và biển
"Từ ngày nào chẳng biết
Thuyền nghe lời biển khơi 


Cánh hải âu, sóng biếc
Đưa thuyền đi muôn nơi
Lòng thuyền nhiều khát vọng
Và tình biển bao la 

Thuyền đi hoài không mỏi
Biển vẫn xa... vẫn xa


Những đêm trăng hiền từ
Biển như cô gái nhỏ
Thầm thì gửi tâm tư
Quanh mạn thuyền sóng vỗ


Cũng có khi vô cớ
Biển ào ạt xô thuyền
(Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên?)


Chỉ có thuyền mới hiểu
Biển mênh mông nhường nào
Chỉ có biển mới biết
Thuyền đi đâu, về đâu


Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau - rạn vỡ 


Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió"
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố 

TIẾNG KHÓC CỦA NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

  

1. Khóc vợ

MÀU TÍM HOA SIM
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân 
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo

Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa 
Nhớ về ái ngại 
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về 
thì thương 
người vợ chờ 
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa 
Mà chết 
người gái nhỏ hậu phương

Tôi về 
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối 
Chiếc lọ hoa ngày cưới
thành bình hương 
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi 
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói 
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông 
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân 
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết 
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà 
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết 
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu... 

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm 
Tím tình ơi lệ ứa 
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành 
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn 
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím 
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu 
Áo anh nát chỉ dù lâu...


2. Khóc người yêu

NÚI ĐÔI
Vũ Cao



Bảy năm về trước em mười bảy
Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới bữa anh sang.


Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.


Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Đâu ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục 
Núi Đôi chăng.

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh ghé thăm nhà thăm núi Đôi.

Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành, chết thủy chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay,

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương nắng khuấy dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.



3. Khóc đồng đội

VIẾNG BẠN
Hoàng Lộc


Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ

Đứa nào bắn anh đó
Súng nào nhằm trúng anh
Khôn thiêng xin chỉ mặt
Gọi tên nó ra anh!

Tên nó là đế quốc
Tên nó là thực dân
Nó là thằng thổ phỉ
Hay là đứa Việt gian?

Khóc anh không nước mắt
Mà lòng đau như thắt
Gọi anh chửa thành lời
Mà hàm răng dính chặt.

Ở đây không gỗ ván
Vùi anh trong tấm chăn.
Của đồng bào Cửa Ngăn
Tặng tôi ngày phân tán.

Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ
Là chúng tôi đang cố
Tiêu diệt kẻ thù chung.




4. Khóc bản thân


CÁC ĐỒNG CHÍ CỦA TÔI
Văn Cao 

Người ta các đồng chí của tôi

Treo tôi lên một cái cây
Đợi một loạt đạn nổ 
Tôi sẽ dẫy như một con nai con
Ở đầu sợi dây
Giống như một nữ đồng chí
Một anh hùng của Hà Tĩnh
Tôi sẽ phải kêu lên
Như mọi chiến sĩ bị địch bắn
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm 
Cho mọi người hiểu khi tôi chết
Vẫn còn là một đảng viên
Cho mọi người hiểu khi tôi chết 
Máu của tôi vẫn còn là máu của Việt Nam
Ở dưới gốc cây có các cụ già các bà mẹ
đã nuôi cách mạng
Các em nhỏ từ ba tuổi đứng nhìn tôi
dẫy chết
Có mẹ tôi 
Ba lần mang cơm đến nhà tù 
Hãy quay mặt đi 
Cho các đồng chí bắn tôi
Tôi sợ các cụ già không sống được
Bao năm nữa 
Để nhìn thấy xã hội chủ nghĩa
Của chúng ta. 
Chết đi mang theo hình đứa con
Bị bắn
Tôi sợ các em còn nhỏ quá
Sẽ nhớ đến bao giờ 
Đến bao giờ các em hết nhớ
Hình ảnh tôi bị treo trên cây
Bị bắn 
Hãy quay mặt đi 
Cho các đồng chí bắn tôi…
Nước mắt lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Dòng máu lúc này vì Đảng nhỏ xuống
Đảng Lao động Việt Nam muôn năm
Đảng Lao động…

NHỚ TẾT MÔNG CỔ


  Bẩy năm học tập xa quê thì có 6 tết được cùng vui tết với bạn bè, thày cô nơi thảo nguyên Mông cổ. Mỗi dân tộc đều có những nét truyền thống riêng làm nên đặc thù của mình. Việt nam và Mông cổ đều coi tết cổ truyền là tết chính do đó cho phép tôi được lan man chuyện tết để chúng ta cùng nhau ôn lại và các bạn mới có thể so sánh tết xưa và nay khi cả hai nước đều chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường.
Hàng năm cứ đến dịp Noel và tết dương lịch là chúng tôi lại chuẩn bị tinh thần vui chơi thỏa thích với bạn bè. Ở Mông cổ thời đó tết dương lịch là tết chung vui của các cơ quan Nhà nước, các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp và các Trường phổ thông. Các cơ quan và các trường thường tổ chức ca nhạc và khiêu vũ. Ai đến cũng được, càng đông càng vui. Tôi là người thiệt thòi nhất trong số lưu học sinh vì tôi phải tham gia văn nghệ của Trường. Khi xong tiết mục của mình thì mới được xuống nhảy. Còn các anh em khác thường chỉ đến dự một lúc sau đó cùng các cô em Mông cổ xinh đẹp kéo nhau đến các trường đại học khác để xem ca nhạc và khiêu vũ. Tôi hay mang theo chai rượu lúa mới. Mấy cậu trong ban nhạc chúng uống “xếch” luôn. Hết chai là chúng bắt đầu xung. Nhạc được đánh tưng bừng. Đứng trong cánh gà tha hồ đùa vui với các em trong đội ca múa. Khi  cậu đánh trống xuống nhảy là tôi lại đánh thay. Do không quen cho nên tôi thường đánh rất to làm cho anh Nhạc trưởng cứ nhăn mặt hoài.
Sinh viên Việt nam nhảy kém cho nên thường rủ nhau đi dạo và đi thăm các trường khác xem họ tổ chức thế nào. Ngoài trời lạnh là thế mà dạo chơi với các bạn cảm thấy ấm áp vô cùng. Năm mới lại quen thêm bạn mới. Cuộc sống cứ thế trôi đi xây đắp nên cuộc đời đầy kỷ niệm của mỗi con người.
Tết dương qua đi, Tết âm lại đến. Thời chúng tôi học như một qui định bất thành văn, cứ tết đến toàn thể lưu học sinh lại đến vui tết cùng Sứ quán. Ai có tài gì thì cứ trổ ra khoe thoải mái. Bởi thế vất vả nhất là các anh lãnh đạo và có tài lẻ. Các anh ấy lo tết suốt cả tuần. Đặc biệt vào ngày 30 tết các anh phải lầm quần quật suốt cả ngày ở Sứ quán để tổ chức từ các món ăn, các trò chơi. trang trí phòng ăn... Tụi long tong như tụi tôi chỉ quen ăn sẵn thì kê bàn ghế. Hồi đó có anh Trần Gia Thịnh quê ở Nam Định là cán bộ cử đi học, là đảng viên kỳ cựu cho nên anh luôn được cử làm lãnh đạo. Đặc biệt anh có nhiều tài lẻ. Anh rất đam mê chụp ảnh. Những người say mê ảnh như tụi tôi luôn được anh sẵn lòng hướng dẫn tỉ mỉ từ cách tráng phim đến kỹ thuật chụp ảnh. Tết nào anh cũng trổ tài nấu các món đặc sản của quê hương Nam Định để thết đãi lưu học sinh. Anh đứng nấu bếp suốt từ trưa 30. Phải công nhận là các món anh nấu đều ngon mang đậm hương vị quê hương. Chúng tôi luôn thầm cám ơn anh vì nhờ có anh mà chúng tôi luôn có được những cái tết gần gũi, đỡ nhớ nhà. Tuy nhiên anh có một yếu điểm chết người là anh không uống được rượu. Chỉ cần một ngụm nhỏ là sau 10 phút anh nằm ngủ mê mệt không biết gì nữa. Tôi nhớ 6 tết anh ở Mông cổ chưa tết nào anh được chung vui hoàn chỉnh với anh em vì cứ chúc nhau xong ly rượu đầu tiên là mọi người phải khiêng anh sang phòng bên để anh ngủ cho “yên tĩnh”. Anh là người rất dễ bị kích động. Biết nhược điểm của mình nhưng anh không thể từ chối được với những lời chúc ngọt như mía đường của mấy cậu đồng hương.
Hàng năm Sứ quán thường tổ chức các cuộc thi như Cờ tướng, Tú lơ khơ. Ăn tối xong là đấu và kết thúc trao giải vào lúc đón giao thừa. Giải thường là các quà tặng ngoại giao của Sứ quán. Giải tuy nhỏ nhưng mang đầy ý nghĩa với mục tiêu Vui là chính. Tuy là vui nhưng các giải đấu cũng căng thẳng ra phết. Nhiều cao thủ máu ăn thua hò hét vỡ cả Sứ quán. Các bàn cờ người xem quây kín nhưng không được nhắc nước. Có ai đó lỡ miệng thì bị ăn chửi đến no bụng. Cuộc vui kéo dài đến sáng. Tuy nhiên sau khi đón giao thừa xong thì tùy nghi di tản. Một số anh em thường về nhà ngay trong đêm vì sáng hôm sau còn đi chúc tết Thày Cô và bạn bè Mông cổ.
Đối với người dân Mông cổ, tết âm lịch là tết gặp mặt, chung vui của gia đình, dòng tộc. Tôi thường được cậu Bold con thày Purevchao mời đến ăn tết cùng gia đình vào trưa mồng một.  Đến chúc tết Thày chẳng cần mang gì vì các Thày biết Việt nam còn đang chiến tranh. Tụi tôi khi đó thường mang biếu Thày chai rượu lúa mới hoặc chai rượu quốc lủi. Các Thày rất thích rượu việt nam. Đem đến bao nhiêu là uống hết bấy nhiêu. Chúc tết xong là Thày trò đều lơ mơ, thổ lộ hết chuyện trên giời dưới biển. Tôi nhớ có năm thày đọc lại cho chúng tôi nghe những bài thơ từ hồi lớp một làm cả nhà phục sái cổ và các cô con gái thày phải móc lì xì ra thưởng. Tôi kể về phong tục tết cổ truyền của Việt nam, về người việt nam chuẩn bị tết ra sao, ngày tết đi lễ chùa và thăm viếng nhau thế nào cho cả nhà nghe. Mọi người rất vui vì thấy tết của các nước Châu á rất giống nhau. Ăn tết nhà Thày tôi mê nhất món bánh nhân thịt cừu. Trời ơi! Chỉ mới ngửi mùi đã thèm rỏ dãi. Tôi không bao giờ quên nhân bánh thịt cừu ngọt lịm thơm lừng mùi hành tỏi do Cô tự làm. Thấy tôi ăn ngon miệng hai cô con gái Thày cứ ép tôi phải ăn thêm làm tôi no muốn vỡ bụng. Giờ đây khi ngồi viết mấy dòng này tôi vẫn chảy nước miếng khi nghĩ đến bánh nhân thịt đặc sản của Mông cổ. Tôi ước ao giá có thể được thì đổi gì tôi cũng đổi để lại được ăn một chiếc bánh nhân thịt cừu nóng hổi thủa nào.
Thày cô năm nào cũng có quà lì xì cho tôi. Năm thì chiếc áo len, năm thì chiếc khăn quàng cổ. Tôi có may mắn được gia đình thày rất quí coi như thành viên trong gia đình. Các cô em gái định thi đi học ở nước nào cũng đều tham khảo ý kiến của tôi. Thực ra tôi khi đó làm gì có thông tin mà góp ý. Ngày tôi về nước cả nhà ra ga tiễn tôi. Thày Cô gửi biếu mẹ tôi 3 loại vải nhiễu hoa để may áo dài. Màu và hoa văn như của quan lại ngày xưa rất đẹp. Tôi nhớ ngày mẹ tôi qua đời, chúng tôi đã xếp cả 3 chiếc áo vào quan tài để mẹ tôi dùng ở thế giới bên kia...
Tình nghĩa là thế mà tôi đã bặt tăm từ bấy đến nay. Thật là bất nghĩa. Mỗi khi tết đến, tôi luôn khắc khoải cảm thấy thiếu điều gì đó vô cùng quan trọng. Nỗi nhớ mong, dày vò ngày càng lớn khi bước sang tuổi xế chiều. Tôi tin rằng chúng ta ai cũng có kỷ niệm nào đó, những mối quan hệ nào đó giống như tôi với những người bạn Mông cổ tuyệt vời. Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi mong các bạn trẻ hãy trân trọng những gì mình đã may mắn có được và đừng để mất đi mà phải ân hận suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời.

Tết Nhâm Thìn 2012